Tin tức

Kỳ1: GS. Nguyễn Sinh Huy - Cuộc đời và các công trình Thủy lợi

Thứ tư - 04/07/2012 12:57
Kỳ1: GS. Nguyễn Sinh Huy - Cuộc đời và các công trình Thủy lợi

Kỳ1: GS. Nguyễn Sinh Huy - Cuộc đời và các công trình Thủy lợi

Trong suốt 35 năm liên tục công tác tại trường Đại học Thủy lợi, ông đã tham gia giảng dạy và hướng dẫn tốt nghiệp cho 31 khoá sinh viên các ngành thủy văn, thủy công, thủy nông và thi công công trình. Ông đã chủ trì 14 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và tham gia hai đề tài khác; chủ trì 31 đề tài cấp Bộ, cấp Tỉnh…trong đó hầu hết các đề tài đều nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên.

Với bài viết này, tôi muốn nói đến giáo sư Nguyễn Sinh Huy người mà tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn bó nhiều năm với nhiệm vụ đào tạo hàng trăm kỹ sư thủy lợi, và với nhiều công trình khoa học nổi tiếng về những ý tưởng táo bạo và đã mang lại cho đất nước những hiệu quả kinh tế, xã hội to lớn.

GS. Nguyễn Sinh Huy trong chương trình "Người đương thời", phát trên VTV1 tháng 03/2009

Trong suốt 35 năm liên tục công tác tại trường Đại học Thủy lợi, ông đã tham gia giảng dạy và hướng dẫn tốt nghiệp cho 31 khoá sinh viên các ngành thủy văn, thủy công, thủy nông và thi công công trình. Ông đã chủ trì 14 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và tham gia hai đề tài khác; chủ trì 31 đề tài cấp Bộ, cấp Tỉnh…trong đó hầu hết các đề tài đều nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên. Ông cũng là tác giả và đồng tác giả của 14 xuất bản phẩm bao gồm giáo trình, tiêu chuẩn, quy trình, tổng kết và hướng dẫn kỹ thuật, cẩm nang, từ điển chuyên ngành...

Trong lúc này, khi đã ở tuổi 76 ông vẫn còn đang bộn bề với nhiều công việc và nhất là từ cuối năm 2007, ông được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn giao chủ trì một dự án lớn: Xây dựng bản “Quy hoạch các giải pháp chống úng ngập cho thành phố Hồ Chí Minh”, vốn là người kín đáo và khiêm tốn, ông không muốn nói về mình. May cho tôi, khi trở về Hà Nội tôi gặp được một người bạn cùng học và một số học trò của ông và những câu chuyện về ông lại có dịp được tiếp tục.

Giáo sư Nguyễn Sinh Huy quê ở xã Thạch Tân, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh sinh ra trong một gia đình viên chức. Cụ thân sinh ông dạy học tại trường tiểu học quê nhà trong thời Pháp thuộc, sớm tham gia hoạt động cách mạng và trở thành cán bộ chính quyền khi nước nhà độc lập. Năm 1950, sau khi học xong trung học phổ thông, anh Huy gia nhập Đoàn Thanh niên Cứu quốc và chuyên trách công tác Đoàn tại địa phương. Năm 1953 khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết định, anh gia nhập thanh niên xung phong phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau khi hoà bình được lập lại trên miền Bắc, đầu năm 1955 anh được lựa chọn để sang Liên Xô và được phân công học tập tại trường Đại học Khí tượng – Thủy văn Ôđetxa thuộc nước Cộng hoà Ukraina. Khác với nhiều sinh viên cùng thời, khi đi học anh đã là cán bộ trong biên chế của Nhà nước, là Bí thư chi đoàn của nhóm thanh niên học tại Ôđetxa. Do vậy, anh luôn xác định cho mình một động cơ học tập đúng đắn, dồn hết thời gian và trí tuệ cho việc tiếp thụ kiến thức. Tuy là sinh viên nước ngoài, không thành thạo tiếng Nga như nhiều bạn học cùng lớp nhưng anh luôn là sinh viên giỏi. Ngoài chuyên môn chính là ngành thủy văn, với lòng say mê của tuổi trẻ, anh còn quan tâm và nghiên cứu về những ngành liên quan như thủy lợi, thủy điện, thủy lực, thổ nhưỡng, cân bằng nước và những chuyên ngành phục vụ nghiên cứu bầu khí quyển như vệ tinh, tên lửa, hàng không, viễn thám, khí hậu… các sinh viên cùng lớp quý mến anh như người bạn, người anh bởi tính trung thực, hiền lành, sẵn sàng giúp đỡ mọi người … Sau 5 năm mải miết học tập, học kỳ cuối cùng trôi đi rất nhanh, anh cũng như các bạn sinh viên Việt Nam khác dồn hết mọi thời gian cho việc làm luận văn tốt nghiệp, mong sớm hoàn thành nhiệm vụ để trở về quê hương phục vụ đất nước. Khi bảo vệ anh đã được Hội đồng chấm thi trao bằng kỹ sư loại xuất sắc nhưng một việc mà anh không ngờ đã xảy ra, tạo ra cho cuộc đời anh một bước ngoặt lớn.

MỐI TÌNH SÓNG GIÓ

Có một người luôn quan tâm, luôn tìm cơ hội để trò chuyện với anh, quan tâm đến cuộc sống và những khó khăn của các bạn Việt Nam, một cán bộ Đoàn trẻ, xinh đẹp, vui vẻ và luôn nhiệt tình giúp đỡ bạn bè. Cô gái ấy là Laritsa Furman, bí thư Đoàn thanh niên Côm sô môn. Cô kém anh bảy tuổi, người được Nhà trường phân công phụ trách giúp đỡ các bạn sinh viên nước ngoài, cô gái mà anh quý mến, tôn trọng và luôn giữ một tình cảm trong sáng. Lý trí đã luôn nhắc nhở và anh cương quyết gạt tình cảm riêng tư sang một bên để học tập. Trong chuyến đi cắm trại cuối cùng của lớp, Laritsa đã thổ lộ tình yêu của cô dành cho anh. Nhưng ngày ấy việc một sinh viên Việt Nam yêu một người nước ngoài là chuyện “động trời” chắc chắn sẽ bị kỷ luật và có thể bị đưa về nước như một người phạm tội, bởi có những quy định rất chặt chẽ đối với sinh viên. Là chàng trai được một cô gái trẻ kém bảy tuổi, xinh đẹp, hoa khôi của lớp nặng lòng yêu quý nhưng anh lại cảm thấy bối rối như mình phạm lỗi bị bắt quả tang và suy nghĩ để tìm cách thoát ra khỏi tình yêu của cô gái mạnh mẽ và đầy cá tính này. Còn Laritsa thì đau khổ, không có cách nào để níu kéo được người con trai mà cô hết lòng yêu quý đến với mình, mới chỉ một tuần sau khi nghe anh từ chối mà cô gái đã như một người xa lạ, mối tình đầu thất bại, cô bỏ ăn, hầu như không ngủ, suy sụp cả về sức khoẻ và tinh thần, không muốn giao tiếp với bất kỳ ai. Gia đình cô lo lắng tìm gặp nhà trường và cầu cứu Huy. Đứng trước tình yêu của người con gái Xô-viết, sẵn sàng từ bỏ gia đình, quê hương, đất nước với cuộc sống đầy đủ để theo anh về một đất nước xa lạ, nghèo nàn, làm cho anh cảm động. Điều quan trọng nhất lúc này là phải cứu lấy Laritsa, chấp nhận tình yêu của nàng cũng đồng nghĩa với việc phải chịu nhiều hy sinh và anh sẵn sàng chấp nhận bất cứ kỷ luật nào của tổ chức. Thời gian anh phải về nước chỉ còn không quá 72 giờ, đôi trai gái đang yêu tận hưởng những ngày bên nhau. Theo phong tục của người dân thành phố Ô-đet-xa, Laritsa dẫn anh ra bờ biển Đen, cầm tay nhau ném những đồng Kopex xuống biển, thề trước trời và biển, từ nay họ nguyện yêu nhau suốt đời và xin trời và biển phù hộ để họ có một đứa con làm sợi dây gắn kết hai ngưòi trong những ngày xa cách.

Vào một ngày đầu thu năm 1962, anh Huy lên tàu trở về đất nước, hòm hành lý chỉ có một chiếc va ly nhỏ, còn một hòm trên 350 kg với hơn 1.000 cuốn sách đủ các chuyên ngành được gửi theo tàu chậm. Lô-ra (tên gọi thân mật của Laritsa) tiễn anh, nhưng không quá buồn và luôn động viên anh, bởi chị tin rằng chẳng bao lâu nữa họ sẽ gặp lại nhau, rằng với tình yêu của mình, họ sẽ vượt qua tất cả để được sống bên nhau. Khi ấy, Lô-ra chưa hình dung được là phải trải qua biết bao gian nan và mãi đến năm năm sau chị và con gái mới trở về đoàn tụ với chồng tại Việt Nam.

(Còn nữa...)

Tác giả bài viết: Đào Xuân Học